Anh về em trả hoa tháng Tư
6962 lượt xem
15-06-2017
Share on Google+ Share on Twitter Share on Facebook Share on Pinterest Share on Linkedin

(NHN) Tít trên của bài viết là câu thơ cuối trong bài “Trả anh hoa tháng tư” trong tập “Tràn trong nỗi nhớ” của Đại Ngàn. Nữ tác giả có tên thật là Nguyễn Thành Tâm, thuộc thế hệ 7X “trình làng” tập thơ đầu tay này, theo tôi - không phải muộn và cũng không phải sớm. Đó là đặc trưng không tuổi tác của văn chương nói chung và thi ca nói riêng.

Trong 50 bài, Đại Ngàn đã trải nỗi niềm bằng nhiều góc độ,cung bậc với hôm qua, hôm nay và ngày mai. Với hôm qua gồm các bài: Khoảng trời xa, Bông hồng ngày cũ, Cánh cò tuổi thơ, Lời hẹn xưa, Ngược dòng… Ở đó có quê hương, ông bà, cha mẹ, những người nông dân lam lũ, có tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm và cả những hoài niệm, tiếc nhớ. Nơi ấy: “Dòng sông thơ ấu xa rồi/ Người xưa xa với khoảng trời xa thương/ Trời xưa xanh đến khôn lường/ Câu hò ngày cũ còn vương vấn người” (Khoảng trời xa). Câu “Trời xưa xanh đến khôn lường” là câu hay. Bầu trời thì xưa nay và mãi mãi vẫn xanh theo cách nhìn đặc trưng (đương nhiên có lúc xám, trắng). Nhưng tác giả vẫn thấy ở đó “xanh đến khôn lường” bởi từ nguồn cội sinh thành, từ quãng tuổi thơ vô tư, trong sáng nhất. Tưởng tượng: “Cánh cò nghiêng cả dòng sông” (Cánh cò tuổi thơ) cũng là một chọn lọc hoài niệm,vì có lẽ tuổi thơ tác giả bên cạnh hai dòng chảy: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” (Quang Dũng) và: “Con sông Bưởi hiền xoa tay được/ Lại chồm lên dữ tợn hãi hùng” (Đ.V) chăng? Bài Nhớ cha là một trong số dấu ấn nhất của Đại Ngàn. Hãy nghe chị nói về người cha đầy nỗi vất vả đã mất sớm của mình: “Con xin lội lại đồng sâu/ Để mong nhìn thấy bạc màu áo cha”, hoặc: “Con xin bé lại ngày qua/ Được cha cõng giữa bao la cánh đồng”… Những câu thơ như thể rút cả ruột gan mình để viết nên đạt đến độ ám ảnh, thi sĩ.

Tôi đã có quãng là học sinh cấp III ở trường Vĩnh Lộc, Thanh Hóa cùng trường với Tâm. Những buổi đến lớp thường đi qua làng chị, nơi vòng đồi núi ôm quốc lộ 45, nên không thể bỏ qua được tâm trạng: “Con đường đất đỏ một màu/ Bàn chân không dép, mái đầu đội mưa” (Thăm lại tuổi thơ). Ngày chúng tôi đi học đã thế, thời tác giả mà vẫn “chân không dép, mái đầu đội mưa” thì những ai không nhớ, hẳn là vô tâm lắm!  Bởi thế nhà thơ đã đặt bút: “Ta lần lựa, ta không khép lại/ Một con đường khắc khoải ấu thơ” (Ngược dòng).

Những bài thơ Đại Ngàn viết về hôm nay chủ yếu thuộc những mưu sinh, những ngang dọc xã hội, những trăn trở riêng chung mà ta muốn hay không vẫn phải đối mặt. Mượn nước, gió của thác Cam Ly, Đà Lạt để tự động viên vượt qua những gánh trĩu dọc đường: “Buông lòng một gánh đa đoan/ Ru mình trong cõi ngập tràn hương hoa” (Thác Cam Ly). Và đây, một cách ru khác của chị: “Nửa đời lặn lội hư vinh/ Nồng trong cõi ảo, đêm tình tội đêm” (Ru mình). Qua tuổi “Tam thập nhi lập” và có thể hơn thế, nhiều người kiểm kê thành đạt của mình mới vỡ ra sự được mất. Hẳn là bằng nội lực, Đại Ngàn đã nhiều khát vọng nên khi chưa thực hiện được theo ý, chị đã bắt đêm cùng hành hạ tình tội với mình là một cách sẻ chia cũng là cách làm của nhiều thi sĩ. Thế nhưng theo tôi, tốt nhất cũng như tác giả này sử dụng là trải lòng với quê hương, cha mẹ, gia đình và tình yêu.

Với những: “Tôi ôm một miền đạo lý đã giao thoa/ Hứng gió đông, ghìm lòng tiếng nấc/ Nơi vỗ về tôi thuở đầu trần, chân đất” (Quê hương). Âu đây cũng là tâm trạng thường gặp vô vàn trong cuộc đời. Nơi đỡ đần những bay cao, bay xa kể cả hoang tưởng rơi xuống chính là quê hương nên chẳng cần phải quá đau đớn như Đại Ngàn: “Con qua muôn nẻo núi sông/ Thắt lòng một thoáng hương đồng gió quê” (Nhớ quê). Thêm nữa, tác giả còn có cha mẹ, gia đình vòng tay ôm ấp vững chãi. Nơi tình yêu thương vô bờ bến của cha mẹ dành cho để chị có mà giãi bày lại: “Chiều đi giữa chốn xa quê/ Mà như thấy mẹ triền đê thuở nào…/ Mẹ ơi đứng vững giữa đời/ Lòng con không rối ở nơi Hà Thành” (Mẹ ốm). Mong mẹ mau khỏi bệnh để con không rối, không ngã nơi kẻ chợ đang rối bời mưu sinh, chính là mẹ đã nâng đỡ con cả khi Người đang đau ốm!

Có lẽ chỉ lúc người thân lâm bệnh thì tình cảm ruột thịt mới được nhận ra rõ nhất. Tương tự như mẹ, khi con trai nằm viện, Đại Ngàn viết bài Lòng mẹ thuộc loại đậm nhất của tập thơ. Hãy nghe chị kể: “Trước khi mổ, con trải qua kinh hoàng/ Con ba tuổi đã gian nan/ Nắm tay mẹ ngủ con còn vẫn run”. Và tiếp: “Con khóc vết mổ sẽ đau/ Tóc mẹ từng sợi trên đầu bạc thêm/ À ơi nhịp thở êm đềm/ Trả cho con mẹ không đêm giật mình”. Còn gì có thể hơn tình mẫu tử nữa đây?

Không gian thơ này - phần viết cho tình yêu lứa đôi khá nhiều gồm các bài: Bông hồng ngày cũ, Bước chân em, Giá mà mãi mãi đắm say, Gió xô vạt cải, Lời hẹn xưa, Miền gió cát, Một lần lỡ giận, Ta nợ nhau, Vĩnh biệt tình ảo, Bài thơ tình em biết gửi cho ai… Ở đó ta thấy tác giả cũng lắm cung bậc, lĩnh vực. Có mối tình đầu để: “Nợ anh một mối tình đầu/ Nợ em anh nói yêu nhau muộn màng” (Ta nợ nhau). Có tình yêu tuổi học trò: “Cái nhìn lặng đứng cả chiều/ Phải chăng thuở ấy đã yêu hỡi người?” (Cái nhìn). Chi tiết cái nhìn của một thiếu nữ mới lớn mà khiến cả buổi chiều không chuyển động, đứng lại là phát hiện lạ!

Trong tình yêu vợ chồng, khó ai thoát khỏi những gập ghềnh, những “cơm không lành, canh chẳng ngọt” mà Đại Ngàn đã không ngại bộc bạch. Bài Miền chồng vợ cũng là bài ấn tượng với những chi tiết đời thường riêng tư: “Đến một ngày anh không còn tôn trọng em/ Những câu nói lịch sự cũng rơi đâu mất/ Đến niềm tin em cũng phải cúi mình lượm nhặt…/ Qua tuổi 40 tắt lịm những bồi hồi/ Tiếng cãi vã bắt đầu lách qua cửa sổ…/ Anh trả em miền chồng vợ ban đầu”… Chỉ những thiếu phụ, mệnh phụ có tình cảm mạnh mẽ mới rành mạch đến thế? Đọc thơ thấy người, ta có thể hình dung cái khoảng trước và trong “Miền chồng vợ” bằng những câu thơ rất “dũng cảm” của chị: “Bốn mùa hoa nở tần ngần/ Tự nhiên lại nhớ phong trần người dưng” (Phút giao mùa). Và: “Sương rơi ướt lạnh bao ngày đợi/ Anh có tìm em, trăng ngóng trông?” (Anh có tìm em). Rồi: “Nghìn năm đã lỡ nhịp rồi/ Thì nghìn năm nữa người ơi em chờ” (Em đợi anh). Cuối cùng vẫn trở về: “Giận chồng em viết thơ tình/ Viết rồi không biết là mình gửi ai” (Bài thơ tình em biết gửi cho ai). Lý do có trong đoạn thơ viết cho người tình khá hay này: “Nửa đời chật lắm con đường nhớ/ Em ôm đã mỏi bó bơ vơ/ Hoàng hôn sắp tắt nơi triền núi/ Anh về em trả hoa tháng tư” (Trả anh hoa tháng tư).

Trong ấn phẩm còn có hai bài “lạc” sang chủ đề thế sự: Đất nước mình đã rất tuyệt đó em và Hình ảnh mẹ sau chiến tranh, khá logic, quan điểm nên đã bổ xung cho tập thêm góc nhìn.

Là tập thơ đầu tay của Nguyễn Thành Tâm - Đại Ngàn, cô giáo có năng khiếu toán (bộ môn vốn xa cách với văn học) và năng khiếu bồi dưỡng toán cho các em thi học sinh giỏi hoặc thì vào các trường chuyên nên “Tràn trong nỗi nhớ” còn những hạn chế đáng tiếc. Bên cạnh nhiều bài, nhiều câu đã chọn lọc kỹ lưỡng còn bắt gặp những từ ngữ cũ, sáo… đây đó trong một số bài chưa thuyết phục.

Hy vọng người đọc không còn gặp gỡ điều vừa nêu trong những tập thơ sau của nữ tác giả khá cá tính này.

Theo Người Hà Nội
RELATED NEWS

Tái bản sáu tác phẩm thiếu nhi của nhà văn Vũ Hùng

7829 lượt xem
15-06-2017
Phía Tây Trường Sơn, Bí Ẩn Của Rừng Già, Chim Mùa... dẫn bạn đọc vào thế giới thiên nhiên kỳ bí và cảm xúc.

Làm Chủ Nghệ Thuật Bán Hàng và câu chuyện về huyền thoại kinh doanh Tom Hopkins

5652 lượt xem
10-06-2017
Được mệnh danh Huyền thoại bán hàng số một nước Mỹ, Tom Hopkins đến Việt Nam ra mắt sách Làm Chủ Nghệ Thuật Bán Hàng giúp bạn đọc tăng tỷ lệ ký kết hợp đồng bằng phương pháp thuyết phục.

Giảm giá 30% nhân Ngày hội thành viên của Nhà sách Phương Nam

6756 lượt xem
09-06-2017
Cơ hội được giảm giá đến 30% dành cho bạn với 100 tựa sách best seller của Phương Nam vào ngày mai 10/6/2017.

Nhà thơ Nguyễn Duy trở lại với thể loại ký cùng hai tập thơ

8060 lượt xem
08-06-2017
Có thể được xem là phần cảm xúc còn chưa bộc lộ hết trong tập kí Ghi Và Nhớ, hai tập thơ Quê Nhà Ở Phía Ngôi Sao và Tuyển Thơ Lục Bát tập hợp những vần thơ gây dựng tên tuổi Nguyễn Duy trong lòng công chúng thành thị.

Con Chim Phụng Cuối Cùng: Số phận bi ai của 9 người đàn bà trong lịch sử

7182 lượt xem
06-06-2017
Chín truyện ngắn là chín mảnh ghép về số phận người đàn bà trong lịch sử được Nguyễn Thị Kim Hòa khéo léo kể ra với tiểu thuyết Con Chim Phụng Cuối Cùng.